Chủ Nhật, Tháng Tư 14, 2024
Trang chủBài viếtChuyên đềHÀ NỘI TRONG NHỮNG TÁC PHẨM “LỚN HƠN CA KHÚC” (Phần 1)

HÀ NỘI TRONG NHỮNG TÁC PHẨM “LỚN HƠN CA KHÚC” (Phần 1)

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Châu

Ảnh: Internet

Tôi có thể kể vanh vách những đặc sản văn hóa nghệ thuật của Thăng Long – Hà Nội chẳng kém gì hướng dẫn viên du lịch hay nhà Hà Nội học chính hiệu.

Tôi có thể tán lau láu những sự kiện ca nhạc nơi đây cứ như một nhân chứng gốc Hà Nội trăm phần trăm và cả đời chưa hề rời xa mảnh đất này.

Tôi có thể nói thao thao về giá trị nghệ thuật những bài ca Hà Nội hệt giọng mấy anh chị nhà báo chuyên trách mục bình luận âm nhạc hay mấy cô cậu MC chuyên dẫn chương trình ca nhạc.

Tôi cũng thuộc làu làu danh mục và lời ca những bài hát được yêu thích về Hà Nội có lẽ chả thua các ca sĩ hay các “fan” của họ.

Song, tôi biết gì về những tác phẩm âm nhạc “lớn hơn ca khúc” của Hà Nội?

Trong bao nhiêu thông tin và kiến thức về âm nhạc Hà Nội mà ta đã tỏ tường, hóa ra vẫn còn một khoản khiến con người “biết tuốt” trong ta bỗng e dè, thậm chí còn chẳng ngờ đến sự hiện hữu của nó.

Ấy thế mà sự hiện hữu đã có thâm niên vài chục năm rồi, tuy vẫn ngắn cho quá trình phát triển một loại hình nghệ thuật, nhưng cũng đủ tuổi cho cả một đời người. Đó là sự tồn tại của nhạc thính phòng, giao hưởng và hợp xướng – những tác phẩm thoát ra khỏi khuôn khổ bài hát quần chúng bấy lâu nay vẫn được coi như thể loại “ruột” của dân ta, những sáng tác vượt qua giới hạn chỉ có duy nhất một bè giai điệu để vươn tới âm nhạc nhiều bè chuyên nghiệp, và nhiều khi còn chối từ luôn cả cách biểu hiện trực diện bằng lời ca để cất cánh theo cái phóng túng vô biên của nghệ thuật âm thanh không lời.

Chính vì mở rộng hình thức và khuôn khổ biểu hiện, nên những tác phẩm khí nhạc và hợp xướng gặp nhiều trở ngại trong dàn dựng, trình diễn cũng như cảm thụ và chưa thể đi vào đời sống xã hội dễ dàng, tự nhiên như ca khúc. Cơ hội tiếp cận hiếm hoi thế nên chẳng mấy ai dám chắc mình là dân sành điệu về món ăn tinh thần cao cấp này.

Mặt khác, phương tiện biểu hiện càng phong phú và tính khái quát càng cao, thì tiềm năng càng lớn trong việc chinh phục những thính giả không nói tiếng Việt, cơ hội càng nhiều cho tham vọng hội nhập một cách bình đẳng trên diễn đàn âm nhạc thế giới bằng thứ ngôn ngữ không cần đến phiên dịch. Vì vậy, dù thiếu nguồn cổ vũ cần thiết từ quảng đại quần chúng, những tác phẩm không phải ca khúc vẫn được sinh ra, vẫn nhẫn nại nằm chờ ngóng đợi một ngày đẹp trời được đến với đời để kể những câu chuyện bằng âm thanh đa tầng, đa sắc và đa nghĩa.

Trong những câu chuyện âm thanh đầy gợi mở ấy hiện diện một Thủ đô vừa xa xưa vừa mới mẻ, linh thiêng mà thân thương, kiêu tráng mà thơ mộng. Với tính đồ sộ của nhạc nhiều bè và tính trừu tượng của nhạc không lời, mỗi người có thể tìm thấy một Hà Nội cho riêng mình, theo cách cảm nhận của người Hà Nội hoặc người phương xa, những người từng biết nơi đây hoặc chưa một lần đến nơi đây.

Muốn thăm viếng di tích lịch sử hay chiêm ngưỡng cảnh tượng thiên nhiên của Thủ đô, muốn tiếp cận tài sản văn hóa nghệ thuật vật thể và phi vật thể của Hà thành ngàn năm văn hiến, lẽ nào ta lại bỏ qua một trong những sản phẩm phi vật thể là đây, một tấm gương ảo phản chiếu hình ảnh những nơi cần thăm thú, chẳng những hình ảnh của thời hiện tại, mà cả thời đã qua, đặc biệt những tháng ngày đã đi vào sử sách.

Một giá trị vô thể như thế lại được “cụ thể hóa” bằng cuộc hành trình vô hình, có chặng lướt qua bề rộng, có chặng dấn tới chiều sâu, cho ta cái nhìn toàn cảnh về đời sống khí nhạc tại Thủ đô, về những nét nổi bật trong đề tài nội dung và ngôn ngữ âm nhạc của tác phẩm về Hà Nội.

Vậy thì còn chần chừ gì mà ta chưa bắt đầu cuộc thưởng ngoạn Hà Nội trong thế giới cảm xúc được dẫn dắt bằng trí tưởng tượng theo những tác phẩm thính phòng, giao hưởng và hợp xướng?

CHẶNG THỨ NHẤT: CÁI NÔI KHÍ NHẠC

Hà Nội từng là cái nôi của nhạc hát trước khi có thêm “đứa em” sinh sau đẻ muộn là nhạc đàn. Từ chỗ ấp ủ ý tưởng cải cách nghệ thuật, tới thập niên 30 của thế kỷ XX, đất Hà thành đã nuôi dưỡng những mầm sáng tạo nhạc mới và đón nhận những bài hát đầu tiên của thế hệ nhạc sĩ đầu tiên, trong đó có cả những tác giả không thuộc về Hà Nội.

Vì sao Hà Nội lại trở thành đất khí nhạc, chứ không phải nơi nào khác?

Chẳng hạn Sài Gòn cũng có những thể nghiệm nhạc đàn ngay từ đầu những năm 40. Đất Sài Gòn luôn mở rộng cánh cửa thông thương với thế giới bên ngoài và cho đến nay vẫn được coi là địa phương đi đầu trong cả nước về tính nhanh nhạy, thức thời và táo bạo. Hơn nữa, Hòn ngọc Viễn Đông không bị đối mặt trực diện với sự tàn phá dữ dội của hai cuộc chiến tranh như Hà Nội, điều này có ý nghĩa không nhỏ trước đòi hỏi đầu tư lớn về nhiều mặt cho những loại hình nghệ thuật có đẳng cấp.

Trước hết, so với một Sài Gòn xưa và thành phố Hồ Chí Minh nay luôn có cái sôi động của một thương trường, một trung tâm nhạc thương mại rất “kết” với thể loại ca khúc quần chúng mang tính giải trí, thì Thăng Long – Hà Nội giống một “thi trường” hơn, vì đất này rất chú trọng truyền thống đèn sách học hành, thi cử đỗ đạt và luôn tôn vinh sự uyên bác tri thức vốn là một đặc tính của văn hóa đỉnh cao, mà trong đó nhạc hàn lâm là một “đỉnh” của văn học nghệ thuật.

Mô tả tính cách sĩ phu Bắc Hà xưa, người ta thường kê ra nào là ham hiểu biết, hiếu học, bền chí, sâu sắc…; nào là thâm thúy chất trí tuệ, khoái tìm kiếm ẩn ý trong sự đa nghĩa, hay lý sự, thích suy tư, ưa chuẩn mực… Kẻ sĩ Hà thành là thế, đa tài và cũng rất đa tình đa cảm. Vùng “đất bồi” dễ cộng hưởng cái hay cái đẹp từ muôn phương, ít nhiễm căn bệnh địa phương chủ nghĩa nên không dị ứng với cái mới cái lạ, đặc biệt những thứ cao siêu tính học thuật kinh viện và sâu sắc tính tư tưởng triết lý.

Bởi vậy, khi tiếp nhận thành tựu văn hóa âm nhạc phương Tây, Hà Nội không dừng ở hình thức đơn giản nhất là ca khúc, mảnh đất văn hiến đầy mình đã chẳng ngại ngần từng bước chậm mà chắc tiến dần vào lãnh địa đòi hỏi nhiều kỹ năng và trí tưởng tượng hơn, đó là nhạc hát nhiều bè và nhạc đàn với các thể loại khác nhau: độc tấu, hòa tấu thính phòng và giao hưởng.

Ngay từ buổi bình minh của tân nhạc đã xuất hiện vài ba tiểu phẩm hòa tấu, chủ yếu chuyển soạn từ giai điệu ca khúc. Đấy là dấu hiệu manh nha cho sự hình thành nhạc đàn, và cũng là một trong những biểu hiện chứng tỏ nền khí nhạc của ta đã lớn lên từ ca khúc.

Song, theo nhận định của các nhà sử nhạc, khí nhạc chuyên nghiệp chính thức ra đời và tồn tại chỉ khi nào môi trường đủ “chín” ở cả ba mắt xích liên hoàn: nhà soạn nhạc – người biểu diễn – người thưởng thức. Để thấy môi trường Thủ đô là nơi có đủ độ chín hơn cả, ta hãy lần lượt làm quen với ba nhân vật chính nắm trong tay vận mệnh của khí nhạc nước nhà.

Nhân vật thứ nhất: người tạo nên hình hài tác phẩm

Trong cuộc gặp mặt “cha đẻ” các tác phẩm khí nhạc về Hà Nội dĩ nhiên phải dành ưu tiên hàng đầu cho các tác giả Hà Nội gốc, gồm những người có quê quán ngay đây (tính theo địa giới hành chính hiện nay) và những người tuy nguyên quán không ở Hà thành nhưng đã chọn đất này làm nơi chôn rau cắt rốn và định cư lập nghiệp.

Mở màn là các nhạc sĩ tiền chiến. Họ thuộc lứa nhạc công đầu tiên chuyên chơi đàn ở tiệm nhảy, phòng trà hoặc dạy nhạc kiếm sống, cho nên những bản hòa tấu không lời đầu tiên được phỏng đoán cũng mang hương vị phòng trà.

Về các tác giả thuộc thế hệ 1X từng bước chân tới lĩnh vực nhạc đàn có thể kể đến Nguyễn Xuân Khoát (1910-1994), Văn Chung (1914-1984), Lê Yên (1917-1988), Nguyễn Đình Phúc (1919-2001), Tạ Phước (1919-1977)…

Kế đến những tác giả thành danh trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ. Bắt đầu có bước chuyển tiếp từ vốn kinh nghiệm thuần túy đến sự đào tạo có bài bản ở nước ngoài hoặc trong nước qua các lớp ngắn hạn với chuyên gia nước ngoài. Các nhạc sĩ thời kháng chiến đã chung tay góp sức cùng lứa nhạc sĩ tiền chiến lát những viên gạch đầu tiên cho nền khí nhạc Việt Nam.

Những tác giả Hà Nội thế hệ 2X-3X tham dự vào quá trình hình thành khí nhạc có: Huy Du (1926-2007), Lương Ngọc Trác (1928), Nguyễn Đức Toàn (1929), Hoàng Vân (1930), La Thăng (1930), Chu Minh (1931), Hoàng Đạm (1931), Hoàng Dương (1933), Doãn Nho (1933), Huy Thục (1934), Nguyễn Thị Nhung (1936), Đỗ Dũng (1939)…

Danh sách tác giả Hà Nội gốc được bổ sung thêm những nhạc sĩ thời hậu chiến. Xuất thân từ các “lò” đào tạo chính quy trong và ngoài nước, thế hệ 4X-5X là những nhân tố tích cực khẳng định đẳng cấp chuyên nghiệp cho đội ngũ khí nhạc Thủ đô. Mặt khác, họ cũng mở rộng hiệu quả xã hội của khí nhạc trong các loại hình nghệ thuật tổng hợp với hình thức nhạc phim, nhạc sân khấu.

Lứa nhạc sĩ đang ở độ tuổi cân bằng giữa sự từng trải và sức sáng tạo ấy là: Trần Trọng Hùng (1943), Ngô Quốc Tính (1943), Nguyễn Cường (1943), Đặng Nguyễn (1943), Phó Đức Phương (1944), Thụy Loan (1945), Phú Quang (1949), Đặng Hữu Phúc (1953), Nguyễn Chính Nghĩa (1953), Vũ Duy Cương (1953), Đỗ Hồng Quân (1956), Trọng Đài (1958), Hoàng Lương (1959)…

Các nhạc sĩ thế hệ 6X-8X cũng như lứa đàn anh 5X được sinh ra và lớn lên tại Thủ đô, nên gốc gác quê quán dù nơi đâu thì họ vẫn được coi như người Hà Nội thứ thiệt. Đây là những gương mặt trẻ trung, hứa hẹn mang lại sức sống mới và tính đa dạng cho ngôn ngữ khí nhạc đầu thế kỷ XXI: Quốc Trung (1966), Minh Đạo (1968), Doãn Nguyên (1969), Vũ Nhật Tân (1970), Trần Mạnh Hùng (1973), Xuân Phương (1973), Lưu Hà An (1973), Trần Kim Ngọc (1975), Giáng Son (1975), Đặng Tuệ Nguyên (1981)…

Thực ra chẳng thấy sự khác biệt nào giữa các nhà soạn nhạc Hà Nội gốc với các tác giả từ nơi khác đến và hiến cả đời cả nghiệp cho thành phố này. Trở thành cư dân Thủ đô, họ làm đẹp thêm đội hình tác giả nhạc đàn và hợp xướng.

Những nhạc sĩ thuộc diện người Hà Nội “gốc ngoại-Hà-Nội” ấy là: Vân Đông (1919-2001), Đỗ Nhuận (1922-1991), Văn Cao (1923-1995), Phạm Đình Sáu (1926-2007), Văn Ký (1928), Nguyễn Đình Tấn (1930 – 2001), Trần Ngọc Xương (1930-1994), Trọng Bằng (1931), Trần Quý (1931), Đàm Linh (1932-2001), Nguyên Nhung (1933-2008), Xuân Tứ (1933), Vĩnh Cát (1934), Thuận Yến (1935), Đinh Quang Hợp (1935), Hồng Đăng (1936), Thanh Hà (1937),  Lê Tịnh (1937), Nguyễn Xinh (1940-1996), Nguyễn Đình Bảng (1942), Minh Khang (1944), Phúc Linh (1947), An Thuyên (1949), Văn Thành Nho (1949), Huy Loan (1949), Nguyễn Thiếu Hoa (1952), Đức Trịnh (1955)…

Không thể không nhắc tới những nhạc sĩ từng gắn một phần đời mình với Hà Nội, bởi Hà Nội đã cho họ một quãng đời có ý nghĩa đặc biệt trong sự nghiệp của họ, rồi đến lượt họ đã hoặc đang làm giàu thêm cho danh mục khí nhạc và hợp xướng của Thủ đô.

Những người khác xứ nặng duyên nợ, nặng ân tình với đất Hà thành ấy là: Nguyễn Văn Thương (1919-2002), Lưu Hữu Phước (1921-1989), Tô Vũ (1923), Tô Hải (1927), Trần Kiết Tường (1925-1999), Hoàng Việt (1928-1967), Nhật Lai (1931-1987), Nguyễn Văn Nam (1933), Quang Hải (1935), Lân Tuất (1935), Lê Khiêm (1935), Phan Ngọc (1936), Lư Nhất Vũ (1936), Trí Thanh (1937-1999), Ca Lê Thuần (1938), Thế Bảo (1938), Nguyễn Thiên Đạo (1940), Mông Lợi Chung (1941), Phạm Minh Tuấn (1942), Hoàng Cương (1944)…

Tuy là bậc sinh thành ra hình hài tác phẩm, nhưng nhà soạn nhạc nhiều khi lại hoàn toàn bất lực trước sự sống còn của đứa con tinh thần. Tác phẩm vẫn chỉ là những nốt nhạc lặng câm, những mớ giấy vô hồn nếu không được trao thân gửi phận vào tay người thể hiện.

(Còn nữa)

Trích chuyên luận Hà Nội trong những tác phẩm “lớn hơn ca khúc” (2009)

Các phần khác:

https://hoinhacsi.com/ha-noi-trong-nhung-tac-pham-lon-hon-ca-khuc-phan-2/

https://hoinhacsi.com/ha-noi-trong-nhung-tac-pham-lon-hon-ca-khuc-phan-3/

BÀI LIÊN QUAN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

XEM NHIỀU

BÌNH LUẬN GẦN ĐÂY