Thứ Sáu, Tháng Năm 24, 2024
Trang chủBài viếtÂm nhạc trong trường ca, sử thi Tây Nguyên

Âm nhạc trong trường ca, sử thi Tây Nguyên

Tác giả: Linh Nga Niê kdam

I. Khởi chuyện

Theo báo cáo tổng kết của chương trình dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên, tiến hành từ năm 2001 đến năm 2007, các nhà sưu tầm đã có trong tay một số lượng tác phẩm đồ sộ, mỗi tác phẩm hàng chục cuốn băng ghi âm, thuộc 513 tác phẩm đăng ký tên. Con số cho thấy đây quả là một kho tàng khổng lồ.

Tuy nhiên, kể từ khi công sứ Sabachie phát hiện được sử thi Đam San vào đầu thế kỷ XX, cho tới đầu thế kỷ XXI, các nhà khoa học lẫn bạn đọc yêu Tây Nguyên đều vẫn chỉ hình dung trường ca, sử thi Tây Nguyên là những áng văn học dân gian truyền miệng. Hầu như không ai biết rằng đây là một loại hình nghệ thuật kép, là những câu chuyện dài bằng văn vần và được trình diễn thông qua âm nhạc dân gian của lối hát nói tự sự (Recitativ) trong dân ca mà tộc người Tây Nguyên nào cũng có.

Một chi tiết quan trọng trong sự tồn tại của thể loại trường ca, sử thi là truyền khẩu hoàn toàn không có bản in ấn. Đặc điểm bao trùm thống nhất trong thể loại trường ca, sử thi ở khắp các tộc người Tây Nguyên lời văn bắt buộc phải phù hợp với cách hát để kể, xướng lên để kể. Có nghĩa là hát lên câu chữ không bị sai về dấu giọng. Điều đó khác hoàn toàn với quan niệm của các nhà sưu tầm hàng chục năm qua, rằng trường ca, sử thi chỉ là thể loại văn học truyền miệng, nghe bằng tai, chưa thành văn bản để đọc bằng mắt. Nhưng quan trọng hơn, lời văn vần của trường ca, sử thi được cất lên từ miệng các nghệ nhân, qua sự diễn tả của nghệ thuật diễn xướng âm nhạc, cụ thể là kể bằng lối hát nói, có điệu trầm, điệu bổng, không có tiết tấu.

Các phương tiện dùng để diễn tả nội dung câu chuyện bằng ngôn từ, như ngữ điệu, nhịp điệu đều chỉ là cơ sở để tiến hành việc hát – kể, hoàn toàn được âm nhạc hóa.

Tính chất âm nhạc của trường ca, sử thi cũng quyết định đặc điểm kết cấu của giai điệu hát – kể, là chỉ có một nét nhạc chung, không phân chia thành từng chủ đề, cho từng trường đoạn hay từng nhân vật như âm nhạc phương Tây trong  nhạc kịch (Opera) của châu Âu, hay các hình thức sân khấu khác của người Việt (Tuồng, Chèo, Cải lương…). Những đoạn nghệ nhân giữ vai chủ thể (tổng hợp, bình luận, trình bày quan điểm hoặc dẫn chuyện…) có giai điệu tựa như cách nói lối, hát nói trong sân khấu ca kịch của người Việt. Những đoạn diễn tả nhân vật và lời thoại của nhân vật, có khi được sử dụng qua các làn điệu dân ca. Hoàn toàn bằng văn vần, theo dạng cặp đối xứng, ở thể biền ngẫu (so sánh, lặp đi lặp lại), với nét nhạc giàu sức biểu cảm và dễ thuộc. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định sự trường tồn trong cộng đồng của thể loại văn chương truyền miệng độc đáo này.

Dân ca các tộc người thiểu số Tây Nguyên có hai thể loại chính là hát nói và hát có nhịp điệu. Hát nói, đúng như đặc tính tự sự của thể loại, thường được xướng lên để tỏ bày tâm trạng vui buồn, kể lể khi gặp gỡ, lúc chia tay… Loại hình dân ca được các tộc người sử dụng trong hát – kể trường ca, sử thi một cách tương đối đồng nhất trong toàn khu vực, đó là lối hát nói. Tùy theo diễn biến của câu chuyện, nghệ nhân có thể nâng cao độ lên  lên quãng 1, quãng 2, thậm chí có khi dùng quãng 5, quãng 8  lên hoặc xuống để diễn tả đúng trạng thái tâm lý, hình ảnh nhân vật cũng như nội dung câu chuyện. Một đặc điểm chung nữa là các nghệ nhân có thể thay đổi âm sắc, cao độ khi đóng vai nhân vật nam, nữ hoặc thần linh.

Có thể cụ thể hóa đặc tính âm nhạc trong một số trường ca, sử thi các tộc người Ê Đê, Bâhnar, Jrai sau đây.

  1. Trong Klei khan của người Ê Đê:

Là một trong những tộc người được phát hiện đầu tiên về thể loại văn học  nghệ thuật kép (hát – kể) trường ca, sử thi, người Ê Đê là một trong các cộng đồng có bề dày về loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian hát – kể klei k’han này. Theo báo cáo tổng kết của chương trình quốc gia về sưu tầm sử thi ở Tây Nguyên, riêng Ê Đê hiện đã có hàng chục tên trường ca, sử thi được ghi lại.

Cũng như mọi tộc người cư trú tập trung lâu đời trên miền núi Trường Sơn, Tây Nguyên, dân ca Ê Đê có hai điệu hát chính –  mmuñ,  là hát nói, tự sự – tiếng Ê Đê gọi là điệu hát k’ưt và hát có nhịp điệu, gọi là điệu arei. Điệu hát k’ưt cũng chính là hình thức dùng cho hát – kể trường ca, sử thi.

Trường ca sử thi Ê Đê không có mấy sự phát triển hay thay đổi giọng điệu giữa hát và kể. Thường thường các nghệ nhân kể bằng phương thức hát từ đầu đến cuối bản trường ca. Giai điệu ít biến hóa, nhấn đi nhấn lại  một nốt (điệp nốt – hát ở một cao độ như nhau), kèm theo những tiếng đệm hơ hơ, vừa để ngừng nghỉ, vừa để suy nghĩ nội dung tiếp theo. Sau đó giọng đổ dần xuống và rồi lại đột ngột vút lên, hoặc luyến xuống để ngắt câu. Tính chất trưởng quán xuyến, ít thấy xuất hiện những quãng nửa cung. Nhưng trong quá trình luyến láy đệm nốt, có thể sẽ có những biến âm nửa cung mơ hồ, bảng lảng rất riêng.

  1. Trong H’ amon của người Bâhnar

Cũng mang tính chất ngâm ngợi, kể lể như trường ca Ê Đê, nhưng khi tiến hành kể chuyện, có lúc là hát, có lúc chỉ kể (khác với Ê Đê thuần hát). Nghệ nhân bao giờ cũng bắt đầu từ âm vực cao nhất của chủ âm, chuyển dần từng bậc theo hướng đi xuống. Ở mỗi bậc âm, giai điệu cũng chạy dài theo một âm thanh (nốt) ấy, tạo nên sự điệp âm kéo dài tương tự như klei khan của người Ê Đê.

Ở phần cuối mỗi mạch chuyện, để ngắt câu, nghệ nhân thường dùng một nốt tô điểm nhỏ luyến láy, cùng với các hư từ ơ ơ để báo hiệu. Cuối câu bao giờ cũng có một nốt nhỏ luyến lên để ngắt.

Làn điệu dùng cho H’amon của người Bâhnar mang đậm tính trữ tình, có khi mang điệu trưởng, có khi thứ; qua sự cảm thụ âm nhạc của nghệ nhân với nội dung truyện kể. Tâm trạng này có thể thay đổi tùy theo trạng thái tâm lý người kể lẫn đối tượng người nghe. Đặc biệt, đôi khi còn có hành động để minh họa.

  1. Trong H’ri của người Jrai

Giai điệu mở đầu trong hát kể, H’Ri của người Jrai, thường bắt vào một nốt ngân tự do kéo dài (mắt ngỗng) như là sự chuẩn bị, ở âm vực cao. Sau đó đổ dần xuống. Đôi chỗ là một trường đoạn dài gồm những nốt có cao độ bằng nhau (điệp nốt). Hết một ý, hay một đoạn lại trở lại cao độ ban đầu. Giai điệu thường ít thay đổi. Tốc độ hát – nói – kể có thể nhanh dần hoặc chậm dần theo diễn biến của câu chuyện. Khi cần bình luận chính kiến của mình, hoặc chuyển trường đoạn, nghệ nhân chỉ nói vần (tương tự như đọc rap), chứ không có giai điệu. Đến khi trở lại lời thoại của nhân vật hoặc câu dẫn chuyện, lại là lối hát nói.

Thấm đẫm chất trữ tình với quãng 2 thứ đặc trưng của dân ca Jrai, hát – kể trường ca, sử thi H’ri  chứa trong mình âm hưởng trưởng và thứ.

Trên đây mới chỉ là đặc trưng tiêu biểu của 3/8 tộc người đã ghi chép được trường ca, sử thi. Nhưng trong phương thức trình diễn trường ca, sử thi, các tộc người bản địa Tây Nguyên đều có sự tương đồng theo lối hát – kể này. Đặc biệt là các tộc người Mnông, K’Ho, Tà Ôi… trong dân ca không có thể loại hát có nhịp điệu, hoàn toàn chỉ là hát nói, việc diễn xướng trường ca, sử thi cũng theo lối hát đó mà tiến hành.

Hội nghị sử thi Quốc tế lần thứ I tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột năm 2007, với sự hiện diện của các nhà khoa học đến từ tám quốc gia, cũng đã cho thấy sự thống nhất về phương thức trình diễn hát – kể ở các nước có sự tồn tại của sử thi, như Hàn Quốc, Mông Cổ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan…

Năm 2016, Giáo sư TS Kiều Trung Sơn và TS Phạm Đặng Xuân Hương cũng đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao giải thưởng khoa học cao nhất, khi chứng minh hình thức diễn xướng hát – kể trong sử thi Mo của dân tộc Mường và Han Chương của dân tộc Thái, điều mà hàng chục năm nay, kể từ phát hiện, chưa từng được đề cập đến.

Thông qua hội thảo sử thi Quốc tế lần thứ I, chúng ta cũng xác định được rằng chỉ ở Tây Nguyên mới có kho tàng trường ca, sử thi lớn nhất thế giới về số lượng, phong phú về đề tài và giai điệu âm nhạc như vậy.

II. Một số kiến nghị

Trường ca, sử thi là một trong những nét đặc trưng của “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức Quốc tế Unesco năm 2008 ghi danh là  “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại”. Sử thi Bâhnar, Ê Đê cũng đã được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa quốc gia. Cho đến nay đã có trường ca, sử thi của tám tộc người thiểu số Tây Nguyên được công bố (Ê Đê, M’Nông, Bâhnar, Jrai, Sê Đăng, Răk Glay, Chăm Hroaih, Hrê). Vậy việc cần quan tâm là làm sao cho di sản ấy tồn tại được trong cộng đồng như chính sức sống mãnh liệt của nó từ năm 1975 trở về trước, mà không phải chỉ trong các thư viện, bảo tàng? Nhất là trong tình trạng các nghệ nhân ngày càng tuổi cao, sức yếu, lay lắt như ngọn đèn trước gió như hiện nay. Xin được đề xuất một số ý kiến sau :

– Để bảo quản, cần có nguồn kinh phí số hóa toàn bộ tư liệu sử thi đã được sưu tầm trong dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên.

–  Từ các văn bản đã được dịch và xuất bản, xây dựng một trang web riêng về trường ca, sử thi các dân tộc thiểu số Việt Nam, để ai cần cũng có thể truy cập và tìm hiểu, phổ thông hóa kho tàng tư liệu quý giá này.

– Xuất bản các trích đoạn dưới dạng sách mỏng, có hình ảnh minh họa màu sắc hấp dẫn, bằng song ngữ tám thứ tiếng dân tộc, phát hành về các vùng đã sưu tầm. Đây cũng là văn bản để các đài phát thanh tiếng dân tộc của quốc gia và địa phương dùng làm tư liệu phát sóng.

– Tiếp tục mở các lớp truyền dạy hát kể sử thi, không để mai một.

– Bộ Văn hóa xây dựng kế hoạch sân khấu hóa, phim thần thoại một số tác phẩm sử thi tiêu biểu, kể cả ở cấp trung ương lẫn địa phương.

– Bộ Giáo dục – Đào tạo xây dựng kế hoạch đưa sử thi vào trường học, thông qua chương trình phần mềm của từng địa phương. Tại các địa phương dẫu là miền núi phía Bắc hay miền Trung – Tây Nguyên, đều có các nhân sĩ, trí thức đủ khả năng biên soạn tài liệu giảng dạy đặc biệt này.

– Các tỉnh Tây Nguyên xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù đối với các nghệ nhân “báu vật nhân văn sống” đang còn sống của địa phương mình.

Có nhiều điều phải làm để hậu thế không trách cứ chúng ta đã để mất đi một di sản văn hóa quý báu như trường ca, sử thi Tây Nguyên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Băng ghi âm tư liệu trường ca Bâhnar Đài PTTH tỉnh Kon Tum.

– Băng ghi âm tư liệu trường ca, sử thi Ê Đê, Jrai, Mnông.

  Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Tây Nguyên.

– Băng ghi âm tư liệu sử thi Răk Glay, Đài PTTH tỉnh Bình Phước.

– Linh Nga Niê kdam: Hệ thống các trường ca, sử thi Tây Nguyên. SGK của tổ chức Cánh buồm 2016.

– Nguyễn Xuân Kính: Quá trình nghiên cứu sử thi ở Việt Nam.

-Website Viện Nghiên cứu văn hóa: Hội thảo Quốc tế  sử thi Việt Nam (28/10/2018)

-Website Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam: Giải thưởng VNDG các năm 20165, 2016.

-Sử thi Thần thoại Mnông. Nxb VHDT, 1997.

-Sử thi Kể dòng con cháu mẹ Chép. Sở VHTT Đăk lăk, 2003.

-Tài liệu điền dã trường ca, sử thi Tây Nguyên của cá nhân.

BÀI LIÊN QUAN

BALLADE

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

XEM NHIỀU

BÌNH LUẬN GẦN ĐÂY